Điểm qua một số nghiên cứu về giáo dục năm 2018 trên thế giới

Thứ hai - 07/01/2019 16:29
Chắc chắn khó mà có thể điểm hết các nghiên cứu trên thế giới về giáo dục trong năm 2018, bởi vậy bài viết này chỉ lựa chọn trong góc nhìn và phạm vi quan tâm của tác giả. Tuy vậy những thông tin vẫn rất bổ ích cho những ai quan tâm tới giáo dục. Bài viết của tác giả Hoàng Anh Đức - tác giả là chủ bút tờ "Dạy và Học", đồng thời là Giám đốc học thuật Hệ thống Trường Quốc tế Gateway- xin điểm qua các nghiên cứu nổi bật liên quan đến công tác day và học. TuPhung xin chia sẻ với các thầy cô:
Các nghiên cứu giáo dục vẫn liên tục nhắc nhở chúng ta về sự ảnh hưởng mạnh mẽ của người dạy đối với người học. Những ảnh hưởng này phần lớn là tích cực, chí ít là thông qua các nghiên cứu được điểm lại trong bài này. Các nghiên cứu trong năm vừa qua đã thể hiện những cách thức cụ thể mà giáo viên có thể/ đã thực sự giúp đỡ học sinh để các em cảm thấy rằng mình thực sự thuộc về cộng đồng nơi mình đang học, và thu nhận được những tiến bộ học tập.

Tất nhiên, cũng có nhiều dư địa để cải tiến. Ví dụ: các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự khác biệt về tỷ lệ đình chỉ và buộc thôi học giữa các cậu bé da màu và da trắng phụ thuộc nhiều vào định kiến của người lớn về chúng, hơn là phụ thuộc vào hành vi của chính tụi trẻ.

Và tất nhiên nữa, có những vấn đề chúng ta tưởng chừng như hiển nhiên, thậm chí nhiều người sẽ tự nhủ "Thế mà cũng phải nghiên cứu à?". Thế nhưng, tự nhủ như vậy hay không là chuyện của quý vị, và nghiên cứu là chuyện của các nhà nghiên cứu.

Trong năm vừa qua, các nghiên cứu mới cũng tinh chỉnh sự hiểu biết của chúng ta về nhiều chủ đề vốn đã rất phổ biến, ví dụ như: Các phong cách học tập (Learning styles); Tư duy cầu tiến (Growth mindset), và thực nghiệm kinh điển "Marshmallow test - Thí nghiệm kẹo dẻo".

Mặc dù vậy, sợi dây xuyên suốt các nghiên cứu này là: Làm thế nào để cải thiện quá trình học, bi chỉ tập trung vào học thuật thôi là không đủ? Chúng ta nên suy nghĩ về việc không chỉ học sinh, mà cả giáo viên cần phải được hỗ trợ đến mức nào?

Tí hon mà hiệu quả bất ngờ!

Những thay đổi dù rất nhỏ trong lớp học lại có thể đem đến lợi ích đáng ngạc nhiên. Nghiên cứu của Cook và cộng sự [1] chỉ ra rằng việc chào đón học sinh ở cửa lớp đem lại cả lợi ích về mặt tâm lý và học thuật: Tỷ lệ gắn kết của học sinh tăng 20%, trong khi các hành phi quấy phá giảm 9%, lợi ích cho kết quả học tập được cho rằng tương đương với việc có thêm một tiếng học mỗi ngày tại trường.

Giáo viên đón chào học sinh đến lớp
Cô giáo chào đón học sinh ở cửa lớp
Một công trình khác của Rodrigues và Pandeirada [2] cho thấy, những bức tường được trang trí rườm rà, nhiều nội dung có thể làm cho học sinh thấy ngột ngạt, giảm sự chú ý và trí nhớ. Một sự kết hợp hài hoà những những công cụ hỗ trợ học tập, các áp phích truyền cảm hứng và các sản phẩm làm việc nhóm của học sinh sẽ đem lại cảm giác sống động và ấm áp cho lớp học. Trước đó, vào 2015, một nghiên cứu của Barrett và cộng sự [3] tại Đại học Salford đã phân tích 153 lớp học và đưa ra khuyến nghị rằng "20~50% các khoảng tường trong lớp cần phải được giữ cho thông thoáng."


Điều gì diễn ra trong bộ não của người học?

Năm qua đánh dấu nhiều đột phá đáng kể đối với Khoa học của sự học (Science of Learning), chủ yếu thông qua các công nghệ chụp chiếu thời gian thực, đem lại bức tranh thực tế về những gì xảy ra trong não bộ tại chính thời điểm mà trẻ đang học tập.

Ví dụ, Smith và cộng sự [4] (**) đã sử dụng hình ảnh cộng hưởng từ chức năng (fMRI-Functional magnetic resonance imaging) để nghiên cứu các vùng hoạt động của não khi trẻ thực thi các kỹ năng đọc. Kết quả chỉ ra rằng ở những đứa trẻ có các kỹ năng đọc tốt nhất, có nhiều tương tác giữa các vùng khác nhau của não hơn là những đứa trẻ có kỹ năng đọc yếu. Điều này cho thấy, hoạt động đọc là một hoạt động liên vùng, huy động sự hoạt động của toàn thể não bộ, thay vì chỉ tác động tới một vùng nhất định. Từ đó, nghiên cứu cũng cho thấy rằng, kỹ năng đọc có thể được phát triển dựa trên nhiều hoạt động đa nhiệm khác như đọc to thành tiếng, hoặc lắng nghe người khác đọc và nhìn vào từng từ trên trang giấy.

Hinh anh cong huong tu chuc nang cua cac ban cau nao
Hình ảnh cộng hưởng từ chức năng của các bán cầu não

Hồi tháng 5, Bác sĩ John S. Hutton [5] cũng đưa ra kết luận tương tự khi trình bày tham luận tại Diễn đàn PAS (Pediatric Academic Societies meeting - Diễn dàn Các Hiệp hội Hàn lâm Nhi khoa) tại Toronto. Nghiên cứu của ông và cộng sự phân tích các kết nối não bộ của trẻ mầm non khi được tiếp cận với các câu truyện qua các hình thức khác nhau: Định dạng audio, truyện có hình minh hoạ (illustrated), truyện không có hình minh hoạ và hoạt hình (animated). Kết quả là các vùng não về ngôn ngữ, hình ảnh thị giác và học tập đã được kết nối nhiều nhất khi trẻ được đọc cho nghe những cuốn truyện có hình. Những cuốn truyện không có hình là quá khó đối với trẻ, và những video hoạt hình thì lại quá tải cho não bộ trẻ nhỏ.


Tưởng vậy mà không phải vậy - Nhìn nhận lại những chủ đề tưởng chừng đã quá quen

Các nghiên cứu mới trong năm qua đã gợi nhiều câu hỏi cho các khám phá trước đó, chủ yếu trong ba lĩnh vực: Các phong cách học tập; Tư duy cầu tiến; và Thí nghiệm của Mischel về sự tự kiểm soát bản thân (thường được biết đến với tên gọi Thí nghiệm kẹo dẻo - Marshmallow test).

Về chủ đề "Các phong cách học tập", Husmann và O'Loughlin [6] đã chỉ ra rằng, chẳng hề có lợi ích gì để kết nối phong cách thu nhận kiến thức của trẻ (ví dụ như học qua hình ảnh, học qua ngôn ngữ…) tới cách mà trẻ thụ đắc được một khái niệm cụ thể. Thay vào đó, giáo viên nên tập trung các các chiến lược tried-and-true (liên tục thử và tìm ra cái phù hợp), ví dụ như kết hợp cả văn bản và hình ảnh, điều này hiệu quả vượt trội so với việc chỉ trình bày đơn tuyến (kể cả chỉ vẽ sơ đồ tư duy).

Với chủ đề nóng bỏng: Growth mindset, Sisk và cộng sự [7] đã tiến hành một phân tích tổng hợp (meta-analysis) trên diện rộng, xem xét 150 công trình nghiên cứu xoay quanh ý tưởng của Carol Dweck "Niềm tin của học sinh về một loại hình trí thông minh (một tư duy cố định hoặc một tư duy cầu tiến) có thể định hình thành quả học tập của họ." Phân tích tổng hợp chỉ ra rằng, sự can thiệp của "tư duy cầu tiến" có những hiệu ứng yếu ớt đối với thành tích học tập của học sinh. Tuy nhiên, với đối tượng học sinh nghèo và học sinh học yếu kém, những thành quả thu nhận được là đáng kể. Điều đó có nghĩa rằng, "Tư duy cầu tiến" là có ích đối với những ai thực sự cần nó.

Trong hàng chục năm qua, thí nghiệm của Walter Mischel [8] (về việc sử dụng khả năng tự kiềm chế bản thân của trẻ nhỏ để tiên đoán khả năng thành công của chúng khi trưởng thành) đã giúp chúng ta hiểu được tầm quan trọng của các kỹ năng phi nhận thức (noncognitive skills). Thế nhưng mới đây, Watts và cộng sự [9] đã tìm thấy một lỗ hổng lớn trong thí nghiệm ban đầu của Mischel: Phần lớn trẻ em tham gia đến từ các gia đình giàu có, và chúng có khả năng chống lại sức hấp dẫn của kẹo dẻo không phải vì chúng có khả năng tự kiểm soát, mà vì chúng đã từng sống trong những không gian đầy ắp kẹo dẻo. Vậy nên, chúng ta cần thận trọng hơn nữa khi sử dụng thí nghiệm này để minh hoạ hay dẫn dắt các câu chuyện.

Học từ những sai lầm

Hồi tháng 11, trong một nghiên cứu công bố trên một tạp chí có tên rất hay - Journal of Memory (ấn bản bởi Taylor & Francis, impact factor 1.873) Cyr và Anderson [10] đã cho thấy, việc cố gắng đoán câu trả lời và nhận được phản hồi về "mức độ gần đúng" của câu trả lời sẽ dẫn đến tỷ lệ ghi nhớ kiến thức cao hơn so với việc chỉ đơn thuần học thuộc lòng thông tin. Hai nhà nghiên cứu Canada đã tiến hành thực nghiệm về việc ghi nhớ thông tin. Khi cố gắng ghi nhớ danh sách các từ, những người tham gia nghiên cứu đã rất cố gắng và nhớ được hơn một nửa số từ. Tuy nhiên khi họ tiếp cận với phương pháp thử sai (trial-and-error) và phán đoán, nhận phản hồi về phỏng đoán của mình và đoán lại, họ đã nhớ được 8/10 từ.

Phuong phap thu sai ap dung ngay trong toan
Phương pháp thử sai áp dụng ngay trong toán

Youki Terada [11], một biên tập viên về mảng nghiên cứu và tiêu chuẩn của Edutopia cũng đã thảo luận chủ đề tương tự vào hồi tháng 8. Việc khuyến khích trẻ đoán và liên tục cải tiến các đáp án tiên đoán không chỉ giúp chúng ghi nhớ tốt hơn, mà còn giúp trẻ gắn kết hơn với môn học, nâng cao hiệu suất học tập tổng quát.


Những điều cần lưu ý về hành vi của nhà giáo

Tình trạng chung tại nhiều quốc gia, không loại trừ Mỹ. Hàng thập kỷ lương thấp và sĩ số đông đã ảnh hưởng đến cả sức khoẻ và sự hài lòng về công việc của giáo viên. Nghiên cứu thực chứng của Herman và cộng sự [12] về "Sự căng thẳng của giáo viên, sự kiệt sức, hiệu quả của bản thân, và kết quả đầu ra của học sinh" đã chỉ ra rằng 93% giáo viên tiểu học tại xứ cờ hoa trải qua mức độ căng thẳng cao. Ngoài những giờ làm việc dài và khối lượng nặng nhọc, các báo cáo còn chỉ ra rằng giáo viên cảm thấy kiệt quệ về cảm xúc, mà nguyên do chính là sự cộng dồn ba thành tố:

(i) cố gắng quản lý nhu cầu về cảm xúc của học sinh,
(ii) áp lực của việc phải gia tăng kết quả học tập của học sinh,
(iii) không có nguồn lực để giải quyết hai vấn đề kể trên.

Ap luc dan den kiet que ve cam xuc
Áp lực dẫn đến kiệt quệ về cảm xúc

Một điều đáng ngạc nhiên là tại Mỹ, trong 20 năm qua, lương giáo viên đã giảm 2.3% (đã có sự điều chỉnh theo lạm phát), trong khi lương của sinh viên tốt nghiệp đại học các ngành khác lại tăng 10.2% [13]. Sự chênh lệch kỷ lục này góp phần lý giải xu hướng di chuyển tới các nước châu Á để giảng dạy của một bộ phận không nhỏ giáo viên, sinh viên giáo dục. Xu hướng đó mạnh tới mức Giáo sư Neal Koblitz (Đại học Washington tại Seattle, nhà sáng lập giải thưởng Kovalevskaia để tôn vinh các nhà khoa học nữ ở các nước đang phát triển) đã phải lên tiếng cảnh báo: "Người Việt có tâm lý sính bằng ngoại!", trong cuộc hội thảo mới đây tại Viện Toán học - Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam [14].


Tầm quan trọng của việc tập trung cải thiện hành vi

Diem so khong phai la dong gop quan trong cua giao duc
Điểm số không phải là đóng góp quan trọng của giáo dục

Bàn về vấn đề "Các bài kiểm tra thiếu hụt những gì? Tầm quan trọng từ ảnh hưởng của giáo viên tới các kết quả đầu ra phi khảo thí (non-test score outcomes)", C. Kirabo Jackson [15] đã chỉ ra rằng, những giáo viên thường giúp học sinh cải thiện hành vi có hiệu suất gấp 10 lần trong việc tăng tỷ lệ tốt nghiệp của học sinh, so với giáo viên chỉ tập trung vào điểm số của các bài kiểm tra. Nghiên cứu đã khảo sát 574,000 học sinh lớp 9 ở khu vực bắc California, từ năm 2005 đến 2012. Kết quả nghiên cứu này củng cố một niềm tin mà hầu như ai cũng tin nhưng chưa được thực chứng: tác động mà giáo viên đem lại với điểm số chỉ là một phần rất nhỏ so với những gì họ đóng góp cho nguồn lực xã hội nói chung. Điều này cũng nhấn mạnh vào nhu cầu cần xây dựng những hệ thống đánh giá bao hàm được cả các kỹ năng nhận thức và kỹ năng phi nhận thức, nhu cầu đã được khơi gợi từ đầu thế kỷ này bởi Heckman[16].

Túm lại, nếu quý vị thấy những chuyện như trên là hiển nhiên, thì năm rồi cũng chẳng khác mấy năm xưa. Còn nếu bạn thấy những chuyện trên là không hiển nhiên, chắc hẳn quý vị đã nhìn ra nhiều điều cần phải làm trong năm 2019, cũng như trong nhiều năm nữa.

Thân ái và quyết thắng,

Chú thích: Nội dung trong bài này được tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau, trong đó nhiều nhất là từ Edutopia. Edutopia là blog giáo dục uy tín, với sự tham gia của các tình nguyện viên trên toàn thế giới. "Dạy & Học" hân hạnh được Edutopia cho phép chuyển ngữ toàn bộ các nội dung trên Edutopia sang tiếng Việt. Các nguồn tham khảo đã có đường dẫn ngay trong bài viết.

Tác giả bài viết: Hoàng Anh Đức

Chú ý: Bài viết trên trang phản ánh quan điểm của cá nhân tôi hoặc của tác giả bài viết gửi bài cho trang web này. Bài đăng không đại diện cho tổ chức chính trị hoặc bất kỳ đơn vị nào. Bạn đọc có góp ý hãy bình luận ở dưới hoặc gửi email trong phần liên hệ.
Bài đăng lại từ trang của tôi mà không trích nguồn http://tuphung.com là vi phạm bản quyền.

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Khảo sát

Bạn biết tôi từ đâu?

Thống kê truy cập
  • Đang truy cập8
  • Hôm nay2,341
  • Tháng hiện tại25,336
  • Tổng lượt truy cập2,391,572
LIÊN KẾT HỮU ÍCH
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
DMCA.com Protection Status